Share
Xem chủ đề cũ hơnGo downXem chủ đề mới hơn
Admin
Tổng số bài gửi : 62
Join date : 05/11/2017
Đến từ : Đà Nẵng
Xem lý lịch thành viênhttp://laohac.forumvi.com

Tôn Giả La Hầu La - Phần 3

on Thu Nov 09, 2017 6:31 pm
9.- CHẾ ĐỘ HIẾN CÚNG TỰ VIỆN:

Khi đã chúung ngộ rồi, địa vị của tôn giả La Hầu La trong tăng đoàn càng được đề cao. Đối với tín đồ tại gia, tôn giả cũng được đặc biệt kính mộ. Ai cũng biết, trong chúng tì kheo, tôn giả là người được cúng dường nhiều nhất.

Xưa nay, việc cúng dường vật chất càng dồi dào thì việc tu tập càng dễ bị chướng ngại. Nhưng đối với tôn giả thì không hề gì, vì tôn giả đã không còn bị lụy về vật chất nữa. Bất cứ vật gì, nếu có hơn một cái thì tôn giả liền đem chia cho vị khác.

Một ngày nọ, lúc Phật bố giáo tại một thôn trang gần thành Ca Tì La, có một vị trưởng giả ngưỡng mộ và phát tâm qui y theo Phật. Có lẽ vì có duyên với tôn giả La Hầu La, hoặc là vì nặng tình địa phương, ông đã phát tâm đặc biệt hộ pháp cho tôn giả. Bất cứ tôn giả có nhu cầu gì, ông đều chu cấp đầy đủ. Về sau ông đã xây cất một ngôi chùa để hiến cúng cho tôn giả cư trú. Vào thời buổi đó, số lượng tăng chúng du phương hành hóa đã gia tăng rất đông, nên ngôi chùa của tôn giả lúc nào cũng có khách tăng ghé lại nghỉ chân. Vị trưởng giả thấy thế thì nghĩ rằng, ngôi chùa là của ông hiến cúng, cho nên ông phải đích thân tham dự vào việc quản trị chùa. Tôn giả bèn đem việc ấy thỉnh ý Phật. Phật dạy:

- Thầy La Hầu La! Trong giáo pháp của Như Lai, hàng cư sĩ tại gia không được quản lí bất cứ việc gì thuộc phạm vi của chúng tăng. Dù chư thiện tín có phát tâm hiến cúng tự viện thì họ cũng không thể nại lí do đó để can dự vào việc quản trị tự viện. Thầy nên giảng giải cho vị trưởng giả ấy biết, đã hiến cúng vật gì cho ai rồi thì không nên nghĩ rằng vật đó vẫn còn là sở hữu của mình. Chùa là do chư tăng trú trì; còn chư thiện tín thì giữ vai trò hộ pháp.

Tôn giả y lời Phật mà giảng giải lại cho vị trưởng giả, nhưng vì chưa thấm nhuần Phật pháp lắm, ông vẫn một mực cố chấp, không buông bỏ được ý niệm mình vẫn là sở hữu chủ của ngôi chùa. Vì vậy, cảm tình của ông đối với tôn giả đã bị sứt mẻ. Trước đây ông đã kính mộ tôn giả thật nhiều, nhưng bây giờ ông lại thấy tôn giả như cái đinh trước mắt. Rồi một hôm, tôn giả có duyên sự phải sang thành Xá Vệ. Vị trưởng giả lên chùa thấy vắng tôn giả, bèn thừa cơ hội, đem ngôi chùa ấy cúng dường cho một vị tì kheo khác! Khi tôn giả trở về, thấy sự việc đã như vậy, liền trở lại ngay Xá Vệ để trình cho Phật biết sự tình. Phật nghĩ, người đã không thấm nhuần Phật pháp thì thật khó mà thực hành Phật pháp một cách đúng đắn. Nhân sự việc này, Phật dạy:

- Này quí thầy! Từ nay, nếu có vị thí chủ nào đã hiến cúng vật gì cho thầy này, rồi lấy lại vật đó đem cúng dường cho thầy kia, thì thầy kia không nên nhận.

Không phải là Phật đã thiên vị tôn giả La Hầu La mà ban hành pháp chế, sự thực là vì để tránh những rắc rối về sau cho giáo đoàn. Nhưng rất tiếc, phần nhiều những tranh chấp tài sản trong nội bộ Phật Giáo ngày nay đều bắt nguồn từ những nguyên nhân tương tự.

10.- NHẬP NIẾT BÀN:

- La Hầu La không phải là một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trong tăng đoàn thuở đó như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan. Tôn giả chỉ chuyên tu mật hạnh, không bao giờ tranh luận, suốt ngày kín tiếng lặng hơi, im lìm tu tập. Tôn giả bẩm tính nhu thuận, kiên cường, nhưng trong nếp sống của một vị tì kheo, tôn giả đã không tỏ ra có gì là sôi nổi cả. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ rằng, trong kinh điển không hề thấy ghi lại bất cứ một hoạt động hoằng pháp hay một cuộc tranh luận với ngoại đạo nào của tôn giả. Tôn giả chỉ là người tinh nghiêm giữ gìn oai nghi tế hạnh; bởi vậy, đúng như Phật đã khen ngợi, tôn giả là vị đứng đầu tăng đoàn về tu mật hạnh.

Tôn giả nhập diệt vào lúc nào? Trước hết, ngay như về ngày sinh của tôn giả cũng đã có hai thuyết, một cho rằng tôn giả ra đời năm Phật mười chín tuổi; một cho rằng tôn giả ra đời năm Phật hai mươi lăm tuổi. Cho nên về niên đại nhập diệt, hiện cũng có hai thuyết, một bản rằng tôn giả đã nhập diệt trước Phật vài năm; một bảo rằng trong giờ phút Phật nhập niết bàn, tôn giả vẫn có mặt bên cạnh Phật.

Ấn Độ là một quốc gia không chú trọng đến việc ghi chép lại những sự thật lịch sử; còn Trung Hoa thì lại không ít những nhà dịch thuật giàu tưởng tượng, hay khoa trương, phóng đại. Những chi tiết không xác thật trong sự tích của Phật và các vị đệ tử lớn được ghi chép trong các kinh điển, cần phải được nghiên cứu lại.

Dựa vào các chứng cứ đáng tin cậy trong kinh điển thì ni sư Da Du Đà La (thân mẫu của tôn giả La Hầu La) nhập diệt năm bảy mươi tám tuổi; còn tôn giả thì nhập diệt trước đó nữa. Kinh chép, một buổi tối nọ, ni sư Da Du Đà La đã quán niệm như sau: “... Các ni sư Kiều Đàm Di, Liên Hoa Sắc (Utpalavarna - Uppadavanna) đều đã nhập diệt; La Hầu La cũng đã nhập diệt! Ta sinh cùng năm với đức Thế Tôn. Năm nay ta đã bảy mươi tám tuổi rồi. Nghe nói năm tám mươi tuổi đức Thế Tôn sẽ nhập niết bàn. Ngày trước vốn có nguyện cùng Người đồng sinh đồng tử, nhưng ngày nay thì giữa ta và Người chỉ có tình đạo chứ đâu còn tình riêng. Cho nên, nếu đợi cùng nhập diệt với Người thì thật là bất kính. Vậy ta nên nhập diệt trước Người thì phải hơn!” Nghĩ vậy, ni sư liền xin phép, và được Phật chấp thuận. Đêm đó, ni sư nhập định rồi nhập diệt ngay trong phòng riêng.

Căn cứ vào sự kiện trên, chúng ta biết tôn giả La Hầu La đã nhập diệt trước cả cha mẹ, vào khoảng trên dưới năm mươi, nhưng không quá sáu mươi tuổi.

Dĩ nhiên, việc nhập diệt sớm hay muộn của tôn giả không phải là việc quan trọng, mà chính sự nghiệp giác ngộ là mục đích tối hậu của người tu hành. Tôn giả đã đạt được nó thì sự nhập diệt chỉ là sự xả bỏ cái sắc thân tạm bợ để an trú vĩnh viễn trong pháp tánh thường hằng mà thôi.

Xem chủ đề cũ hơnVề Đầu TrangXem chủ đề mới hơn
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết